[../include/top.htm] New Page 1

Menu

Ban iều hnh
Chia Vui-Sẻ Buồn
Bản Tin NLS-BL
Nhắn tin-Tm bạn cũ
Hnh ảnh
Cập nhật danh sch
Vui buồn NLS
NLS Viết v ọc
Trang Nh


Ngy




 

::Tm tnh v kỷ niệm


HAI CHUYẾN ĐẾN C CHU Tm tnh v kỷ niệm
May 10 2017 / Lương ngọc Thnh

     Sau hai mươi hai năm cách biệt, đến nước Úc lần thứ nhì, tôi trải nghiệm quá nhiều sự  khác biệt đến nỗi những ai có giàu trí tưởng tượng nhất, các nhà văn có kinh nghiệm nhất và ngay đến cả tôi cũng khó có thể tượng tượng ra được.

 

   Lần thứ nhất đến đây, cuối tháng 10 năm 1992, mới vừa là một giáo viên dạy Anh Văn, tôi đã đến Úc với visa du lịch 6 tháng để phụ việc với thằng em tôi, một chủ hãng ủi đồ có tiếng trong vùng Cabramatta và Fairfield. Lần này tôi qua 3 tháng để thăm nó bệnh với lá thư xác nhận của bác sĩ rằng nó bị chứng suy gan nặng. Trước đây, tôi ở tại căn nhà lầu của nó 6 phòng mới xây xong tại 150 Brown St. Bonnyriggs, tiện nghi, sang trọng, nội thất đẹp đẽ mắc tiền. Căn nhà khi đó được nhà bank đánh giá gần 400.000 đô. Bây giờ, tôi đang ở căn nhà 3 phòng nhỏ cũ kĩ của chính phủ cho thuê với tiền trợ giá tại số 110 Freeman Ave, Canley Vale. Ai mà không cảm thấy ngạc nhiên và tội nghiệp cho nó chứ!?

 

      Hai đứa cháu nay lớn khôn nhưng theo cách khác nhau. Thằng cháu lớn có vợ ngoan đẹp được nó cưới và bảo lãnh từ Đà lạt,Việt Nam qua. Cháu tôi làm cho hãng Alliance với một mức lương 100.000 đô một năm. Sau khi được tôi đứng ra lo làm đám cưới trên Đà Lạt hơn một năm trước, cháu tôi tỏ ra quý trọng tôi hơn so với lần trước đây. Cô cháu dâu dễ thương mềm mỏng tử tế với tôi như thể tôi là người bác ruột. Thằng em nó, dù ở tuổi 30, vẫn còn lông bông, chưa có một bạn gái tử tế, công việc và cách sống tốt đẹp. Không ai có thể đoán biết rồi nó sẽ ra sao?

   Hai mươi hai năm trước đây, khi ngành may mặc đang phát triển mạnh, đang ở trong mùa hái ra tiền, em tôi có nhiều khách hàng ủi đồ nhất và có thu nhập có vẻ cũng cao nhất vùng, 700.000 đô một năm. Nó đi xe Toyota 4-wheel drive nhập từ Nhật với giá 60.000 đô. Tất cả 16 thợ làm cho em tôi có mức lương khoảng 480 đô một tuần. Họ làm 12 giờ mỗi ngày, tuần 7 ngày. Sáng thức dậy lúc 3:30, uống xong một ly cà phê, nó lái xe đến hãng và bắt đầu làm từ 4 giờ. Trong nhiều lunch break, vì trời quá nóng nực, quá mệt mỏi, em tôi chỉ uống Coca. Nó chỉ một mình uống Whiskey vào chiều ngày chủ nhật, không đi nhà hàng, không babercue, không khách khứa gần xa. Chưa đi học tiếng Anh một ngày nào từ khi đến Úc, cuối năm 1983, sau khi hơn một năm làm tài xế cho thằng em họ, học lõm vài ba câu và một ít chữ, vậy mà nó nói tiếng Anh với các chủ hàng gốc Ý hay Lebanon một cách khá trơn tru. Nhận thấy cái cơ ngơi mà thằng em họ cứ mãi than thở là làm ăn thua lỗ, nó năn nỉ chị tôi cầm căn nhà bên Adelaide để sang lại cái hãng này và rồi lên ngôi chủ sau 3 tháng hùn hạp. Nó đúng là thần tượng của nhiều tay chủ hãng khác. Vốn đã ra đời từ rất sớm, vốn đã vật lộn với đời nhiều phen bên Việt Nam, em tôi thật như một “đàn anh” đối với nhiều người và ngay cả với tôi.

   Dẫu cho ăn mặc như ông chủ, nó vẫn đứng ủi đồ như một người thợ giỏi. Nó giải thích với tôi,

“Mình có làm giỏi như vậy thợ mới chịu nghe lời mình chứ anh!”

   Có lần một tay chủ hãng may gốc Ý, ăn mặc chải chuốt, bảnh bao đến tìm nó để khẩn khoản nhờ nó giúp ủi gấp mấy cái áo mẫu. Nó thản nhiên lịch sự từ chối vì theo nó,

“Khi kẹt quá nó mới tìm tới mình. Hãng nào có ít đồ ủi mới cần nó. Mình phải lo cho khách hàng mình trước chứ!”

 Nó tự tay sửa chữa cái boiler hay hàn những cái rack mới. Lùng tìm mua cái máy ủi dập của các hãng nhỏ vừa phải dẹp tiệm, nó tự tay tháo ráp và biến nó thành cái “máy in ra tiền.” Ngay lần đầu tiên nó rủ tôi đi Commonwealth bank ở Banktown để rút tiền trả tiền thợ, nó cho tôi biết,

   “Tui rút ra 6.000 để trả thợ tuần này có nghĩa là tui lời được 6.000. Anh biết sao không? Mỗi cái áo tui nhận ủi với giá 25 cents. Tiền công thợ mỗi cái là 12 cents. Vậy tính sơ sơ… phải một lời một không chứ?”

    Tôi thót dạ khi so sánh một ông chủ hãng lớn bên Úc như nó với một ông thầy giáo Việt như tôi.

“Em ta mỗi tuần lời 6.000 đô. Còn ta dạy mỗi tuần không có dư đến 60 xu!”

 

    Giống như tôi không thích ăn diện, trang sức, nó không thích đi shopping. Nhất vì nó không có thì giờ và tâm trí cho cái chuyện ấy, hai là vì bà xã của nó lâu nay lo hết cái công việc ấy rồi. Nó càng ghét cái phong trào “về Việt Nam” thời bấy giờ. Theo lời nó,

“Vượt biên qua xứ người không chịu lo làm ăn mà lúc nào cũng đòi về Việt Nam để khoe khoang.”

Khi vợ nó than buồn, em tôi đã cho vợ nó 20.000 đô đi tour một cách dễ dàng. Con nó muốn mua sắm một thứ gì mới vừa quảng cáo, nó cho tài xế đi mua về ngay.

    Trước đây, đa phần tôi phải làm việc cho em tôi trong hãng ủi như một lao công. Tôi đã dọn dẹp cái hãng 2.000 mét vuông, lộn quần áo phía trái ra phía mặt, chở đồ ủi trên troley đến từng người thợ, xếp đồ ủi rồi vào rack, chọn đồ đúng size để giao mỗi khi có khách đến nhận. Để thay đổi không khí, tôi còn phụ với tài xế đi giao cho khách hàng ở xa.

   Tôi còn có khi may gia công tại nhà với bà chị. Tôi được gọi đi làm farm 2 ngày, 10 giờ ngoài đồng với 50 đô một ngày. Đọc báo thấy Studio Alpha ở khu Banktown cần tuyển thợ, tôi đã đến thử việc và được nhận làm thợ 1 tuần. Vì sau đó ông chủ biết tôi là dân đi du lịch, ông ta cười khi trao cho tôi tiền lương. Được giới thiệu, tôi đã đóng nút áo trong một hãng may được 3 tuần với một năng suất cao hơn một tay thợ 4 năm. Tuần đầu, tôi ăn lương 5 đô một giờ. Tuần thứ hai mức lương của tôi lên 20 cent và tuần sau đó con số ấy là 40 cent. Ít ai tin là tôi đã làm rất tốt và đều đặn 14 tiếng trong 3 tuần đó. Cái sáng kiến “lót miếng giẻ ướt phía dưới, rãi nút áo lên trên” để bóc các nút áo được nhanh chóng hơn được người chủ hãng đánh giá rất cao. Ông ta nói tếu lâm,

“Chỗ nào ướt át là chỗ đó của ảnh đó.”

   Rất tiện tặn, hầu như không đi đâu chơi, không đi theo các tay thợ trẻ ra phố vào ban đêm, không đi shopping, tôi đã kiếm được và mang về nước tổng cộng khoảng 7.000 đô sau khi khấu trừ các loại chi phí của chuyến đi. Trong sáu tháng của tôi trước đây, tôi đã đổ nhiều mồ hôi, công sức để làm việc. Tôi đã chiếm được cảm tình của rất nhiều người từ khách hàng của em tôi, các tay thợ trong hãng, những người chủ khác và mọi người chung quanh, kể cả ông thầy người Úc dạy đàm thoại khi tôi phải khai tên của em tôi để dự học vào cái tháng cuối trước khi về nước. Trừ hai vợ chồng thằng em tôi ra, dĩ nhiên có rất nhiều người đã đề nghị tôi nên gia hạn ở lại thêm để kiếm thêm tiền. Đó là chuyện của 22 năm trước. Còn lần này đến Úc, nhất là vào đúng những tháng mùa đông lạnh lẽo năm nay và vì phải ở với nó trong bệnh viện, không thể đi xa, cho nên tôi chẳng làm ra một cent nào bất chấp đề nghị làm part-time cho một take-away của một thằng bạn thân thiết gốc Cần Thơ hoặc có nhiều việc làm farm ở Adelaide. Dĩ nhiên, tôi không mảy may có một chút cơ hội nào trong lần thứ nhì này.

    Không bao lâu sau khi tôi về nước, khoản 1996, nó có một thay đổi lớn. Thấy vợ hay cằn nhằn thợ thầy trong hãng, nó chỉ giao cho vợ chuyện chở con đi học và rồi “muốn làm gì thì làm.” Khi nhóm nghệ sĩ Việt Nam qua Sydney biểu diễn, nó bao họ ăn nhà hàng, đãi đằng tại nhà, quà cáp nhiều đến nỗi mọi người trong đoàn phải choáng ngộp. Sau đó, các vị ấy từ Sài Gòn mỗi khi điện thoại qua nhờ vả một khoản tài chánh nào đó, em tôi lập tức gửi về ngay như thể “huynh đệ chi giao.”Khi về Rạch Giá,VN để dự đám thượng thọ của mẹ tôi, năm 1999, một đoàn những “nghệ sĩ ấy” ân cần đi xe xuống theo lời mời của nó, trong 4 ngày đám ma của mẹ tôi tại Gò Vấp, hàng đêm có khoảng 5 quý vị ấy đến uống bia với em tôi và sau đó cùng em tôi qua đêm ngoài Sài Gòn. Mỗi khi về VN và trở lại Úc, em tôi được biết bao nhiêu gương mặt rất quen thuộc trên sân khấu, trên T.V lúc ấy ra phi trường nghênh đón hoặc tống biệt.

   Cũng trong khoảng thời gian ấy, khi có vài việc phải về Việt Nam, nó đã nướng sạch một số tiền kha khá, 50.000 đô la, vào những buổi du hí với những người không những diễn hay trên sân khấu mà còn xuất sắc khi đóng vai thật ngoài đời.

 

    Cùng em tôi tổ chức, rồi vượt biển, cùng chịu nhiều gian khổ buồn vui khi sống bên trại tị nạn, hạ sinh thằng con đầu lòng bên Mã lai, rồi qua Philippines gần hai năm, người em dâu trước kia của tôi, hiện nay còn hoạt bát, lanh lợi, đang sống với một tay thầu nhỏ, Hurmond, 70 tuổi, gốc Irag, có công việc cleaning cho cô ấy làm. Vẫn như ngày nào, từ thuở còn ở VN, em dâu tôi, theo lời của y, luôn xem tôi như ông anh chồng đáng kính. Tôi được cô em mời đi ăn, trao cho một tí tiền tiêu vặt và cô ta còn mua tặng một đôi giầy da trong những ngày đầu tiên tôi mới đặt chân đến Úc châu.

   Vốn làm một carer (người nuôi bệnh) cho em tôi khoảng 9 năm ở Việt Nam, chờ đợi những lần em tôi phải về lại Úc để khám bệnh, để làm thủ tục, Hồng được em tôi cưới và lãnh qua gần 2 năm nay. Cô em dâu thứ hai này của tôi, nhỏ thó hơn, khéo léo hơn, chăm sóc em tôi tuyệt hơn nhưng cô ấy cũng gây cho tôi nhiều điều khó nói ra hơn so với người tiền nhiệm, người lớn hơn y một con giáp. Cô em dâu mới không ngại ngùng khi chỉ bảo, phê phán, chê bai cứ như thể tôi là ông anh cù lần nhà quê mới ra tỉnh so với cô nàng gần 2 năm qua đây. Để không làm phật lòng cả hai người em dâu, tôi gật gù, yes, yes cho qua chuyện. Tôi phải rất ôn tồn khi có chuyện gì muốn nói. Tôi phải im lặng khi có những chuyện mà nhiều người khác phải tím mặt, hay run tay…

     Thằng cháu nhỏ 22 năm trước kia bị té gãy xương quai xanh cánh tay phải nhập viện. Cũng tại bệnh viện Liverpool, tôi đã tự nhận là cha đẻ của thằng bé để em tôi được rảnh tay lo quản lý khối công việc to lớn tại hãng. Hai đêm ở lại trong khoa nhi của bệnh viện, tôi đã có quá ít dịp để nói tiếng Anh. Tôi cũng có quá ít tâm trạng, ít những điều khó chịu hay bận lòng hoặc thậm chí cáu gắt thằng cháu 8 tuổi hiền ngoan đến tội nghiệp của tôi. 

    Lần thứ hai đến Úc, giúp cho cô em dâu mới, tôi gọi ambulance 2 lần vào lúc nửa đêm khi em tôi quá mệt. Cũng tại bệnh viện ấy, trong khoa nội tiêu hóa, tôi đóng vai trò người phụ tá cho cô em dâu. Buồn cười thay, nhiều người lầm tưởng tôi là con trai của thằng em bệnh hoạn già nua kia. Tôi buộc lòng phải làm interpreter (thông dịch viên)mỗi khi có nhóm bác sĩ, sinh viên y khoa đến thăm khám hay những y tá mới đến chăm sóc. Ngoài việc phụ tay, phụ chân, đi xe lửa về nhà lấy đồ, đôi khi tôi còn biết cách làm cho nó vui. Có lần tôi định viết ra hết những gì nó đã tâm sự. Tình huynh đệ máu mủ tăng lên đến nỗi nó không muốn cho tôi rời nó nửa bước nhất là nó không chịu cho tôi về Việt Nam đúng hạn. Từ còn bé cho đến khi đó, nó mới gọi tôi là anh và xưng là em với tôi. Tôi cảm nhận được rằng em tôi tin rằng tôi là người có thể cận kề, chăm sóc, che chở bảo vệ được nó trong những ngày giờ khó khăn đau đớn nhất. Và sau khi tôi xa rời nó để về lại VN, trong những ngày cuối cùng, nó khóc và gọi tên tôi.

 

   Trong lần thứ hai này, đêm đầu tiên ở lại trong bệnh viện của tôi đã không có gì đáng để kể ra cả. Tôi đã quyết định ở lại vì bác sĩ Vermish hứa làm “tap- rút nước trong khoang bụng” cho nó sáng sớm hôm sau. Đi bệnh viện rồi về bằng xe lửa hàng ngày đã không khiến tôi khó chịu. Nhưng đến ngày 10-8, bị một cơn đau thắt, em tôi suýt mất thở. Kể từ đó, tôi đã ở lại bệnh viện với em tôi. Đến ngày 21- 8, sau khi được thay viên giảm đau Andone bằng mũi tiêm “Trible morphone”, em tôi có vẻ như bị hôn mê. Trong ba ngày đó, ngoài việc thầy Chùa đến tụng kinh và cho Pháp danh, tôi có dịp cận kề em tôi trong những ngày cuối đời của nó. Tôi dự định viết ra cuộc đời của nó như một một ký sự.

    Đến ngày 27- 8, em tôi được chuyển lên palliative care ward (khoa chăm sóc cuối đời). Nó đã khóc rồi thẩn thờ nhìn trần nhà như đang tự suy gẫm điều gì đó hay vì biết rằng nó sắp ra đi vĩnh viễn. Trong căn phòng rộng hơn, với nhiều tiện nghi hơn, chúng tôi dần dần cảm thấy ổn định. Có lúc nó và tôi vui tếu cười đùa, cũng có khi nó nhắc nhở về những chuyện xưa khi tôi hỏi. Ngay khi vào khoa này, hằng ngày nhóm hộ niệm đã đến để tụng kinh và họ đã giúp em tôi chuẩn bị “ra đi” một cách thanh thản. Mọi người quanh tôi luôn thắc mắc làm sao tôi có thể ở suốt trong đó trong khi tôi mỉm cười tự trả lời, “Tại sao không chứ?”

 

    Tôi được cấp cho 3 bữa ăn, do tôi chọn menu. Có 2 lần giữa buổi ăn họ phát snack hay trà, cà phê. Thật ra chúng tôi đã có bếp của bệnh nhân rồi. Bên phải bếp là một phòng rộng 200 m2 với 2 cạnh lộ thiên cho khách đến thăm viếng. Tôi đã tập thể dục buổi sáng ở đây như đang ở trong một gym đơn giản. Với cái 4G, tôi tự do làm việc trên laptop. Mỗi sáng, y tá đến tắm, thay tấm drap, tả lót. Người cleaner cũng hằng ngày làm sạch sẽ cả phòng. Tôi có folding chair (ghế xếp) để ngủ. Có đủ vật chất, đầy tinh thần như vậy tôi còn đòi hỏi gì nữa chứ?

 

   Đến xế chiều ngày 11- 9, ngày cuối cùng của tôi trong chuyến đi thứ hai này, chờ lúc em tôi ngủ say, tôi gọi cô em dâu ra ngoài để nói vài lời từ biệt. Tôi nghẹn ngào khi quay vào phòng để hôn nhẹ lên trán em tôi. Tại flatform, trong khi chờ xe lửa đến, tôi nhắn tin,

“Thanks for everything. Chờ lúc thuận tiện, nói với nó rằng anh phải về. Nếu được, tháng sau anh sẽ cố trở qua nữa.”

 

   Nhưng, tôi không còn kịp để qua lần nữa theo dự tính. Có thể tôi sẽ không có lần thứ 3 qua Úc nữa đâu. Đúng 5 ngày sau khi tôi về V.N, em tôi đã vĩnh viễn ra đi lúc 6 giờ chiều ngày 17- 9. Sau 49 ngày mất, em dâu tôi sẽ mang tro của nó về để đặt vào nghĩa trang kiến họ Lâm của gia đình, phường Tân Thới Nhì, quận 12 nơi mà hằng năm, nhân dịp lên thăm mộ của mẹ, tôi sẽ ghé thăm em tôi được 2 lần.

 

    Có thể em tôi sẽ cảm thấy ấm áp ở với tổ tiên, ông bà trong đó có cả mẹ chúng tôi hơn là phải nằm lại ở đất khách quê người.

                               “Quê hương mỗi người chỉ một.

                                          Như là chỉ một mẹ thôi…”

                                                                          Việt Nam, ngày 18- 9-2014

                                                                                                                         Lương Ngọc Thành

                                                                                                     (Kỷ niện hai chuyến đến Australia và để nhớ về em tôi.)

Xem : Tm tnh v kỷ niệm



 

[../include/bottom.htm]

Gia dinh Nng Lm Sc Bảo Lộc -


Gia dinh Nng Lm Sc Bảo Lộc - All rights Reserved. Designed by Sea-lion.
 

 
Nhấn nt "like" duới đy để ủng hộ NLS Bảo Lộc !